Cục Thuế phối hợp Học viện Cảnh sát Nhân dân tổ chức Hội thảo khoa học “Công tác phòng ngừa, xử lý vi phạm, tội phạm về hóa đơn hoàn thuế giá trị gia tăng”. Đây là một sự kiện quan trọng nằm trong chuỗi hoạt động tuyên truyền về phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế.

Phó Cục trưởng Cục Thuế Mai Sơn và Thiếu tướng, TS Chử Văn Dũng đồng chỉ trì hội thảo

Thiếu tướng, TS Chử Văn Dũng – Phó Giám đốc Học viện và Phó Cục trưởng Cục Thuế Mai Sơn đồng chủ trì điều hành Hội thảo. Dự hội thảo có các đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thực thi pháp luật, các đơn vị nghiệp vụ, địa phương, nhà khoa học và đại diện các doanh nghiệp (DN).

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thiếu tướng, TS Chử Văn Dũng – Phó Giám đốc Học viện Cảnh sát Nhân dân cho biết, thời gian qua, Học viện đã phối hợp chặt chẽ với ngành Thuế trong công tác bồi dưỡng kỹ năng phát hiện và xử lý vi phạm thuế cho lãnh đạo, công chức ngành Thuế và tổ chức thành công chiến dịch tuyên truyền…

“Hội thảo là diễn đàn quan trọng để lắng nghe ý kiến từ giảng viên, các nhà khoa học, cơ quan Công an, ngành Thuế và cả DN… nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, chống thất thu ngân sách và kiến nghị giải pháp cho những vấn đề còn vướng mắc.” Thiếu tướng, TS Chử Văn Dũng thông tin.

Các đại biểu tham dự Hội thảo

Tại các phiên tham luận giữa Học viện Cảnh sát Nhân dân, Cục Thuế, Trường Cán bộ, thanh tra Chính phủ, Cục Cảnh sát kinh tế, đại điện một số Thuế tỉnh, thành phố, đại diện một số Chi cục Hải quan khu vực và đại diện một số DN được diễn ra thẳng thắnkhẩn trương, nghiêm tục, hiệu quả, sát thực tế, không né tránh và đầy trách nhiệm.

Qua các phiên tham luận các đại biểu tham dự Hội thảo đã có cái nhìn toàn diện hơn về tình trạng gian lận, mua bán và sử dụng hóa đơn không hợp pháp và sử dụng bất hợp pháp hóa đơn diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi, có sự liên kết theo chuỗi, lợi dụng công nghệ và tập trung ở một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, Từ thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải nhận diện đúng dấu hiệu vi phạm, tăng cường phân tích rủi ro, đồng thời đẩy mạnh phối hợp giữa cơ quan Thuế với Công an, Hải quan, Ngân hàng và các đơn vị liên quan để kịp thời ngăn chặn, xử lý.

Phát biểu kết thúc phiên tham luận, Phó Cục trưởng Cục Thuế Mai Sơn khẳng định, trong rất nhiều năm qua, cơ quan thuế đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an trong việc xác minh, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án gian lận thuế… giúp cho bức tranh môi trường kinh doanh ngày càng lành mạnh.

Các đại biểu tham luận tại Hội thảo

Trên cơ sở các ý kiến tham luận tại Hội thảo, Phó Cục trưởng Mai Sơn khẳng định Hội thảo đã đạt được những kết quả rất quan trọng. Cụ thể:

Một là, các tham luận đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, thống nhất nhận thức trong việc nhận diện đúng, nhận diện trúng các hành vi gian lận, vi phạm và tội phạm về hóa đơn, hoàn thuế giá trị gia tăng trong bối cảnh hiện nay.

Hai là, Hội thảo đã đánh giá khách quan, toàn diện hơn về thực trạng tình hình gian lận, vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực này; chỉ ra những khó khăn phát sinh, những điểm nghẽn trong phối hợp, những hạn chế trong công tác quản lý, phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý; đồng thời phân tích nguyên nhân của các tồn tại cần tiếp tục khắc phục.

Ba là, Hội thảo đã đề xuất nhiều giải pháp thiết thực, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm, tội phạm, từ hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật; tăng cường phối hợp liên ngành; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ; đến đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý hóa đơn và hoàn thuế giá trị gia tăng.

Quang cảnh Hội thảo

Bản chất và đặc điểm nhận diện các nhóm hành vi điển hình

liên quan đến mua bán, sử dụng trái phép hóa đơn nhằm chiếm đoạt hoàn thuế GTGT

Từ việc tập trung phân tích 04 nhóm hành vi điển hình liên quan đến mua bán, sử dụng trái phép hóa đơn phục vụ mục đích chiếm đoạt hoàn thuế GTGT, ngành Thuế đã làm rõ bản chất hành vi, các đặc điểm nhận diện và các tác động đến công tác quản lý hoàn thuế của cơ quan thuế.

Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập hiện nay, chính sách hoàn thuế GTGT đã và đang giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ DN phục hồi dòng tiền, thúc đẩy xuất khẩu, khuyến khích đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thời gian qua, bên cạnh những tác động tích cực, chính sách hoàn thuế GTGT đang bị một bộ phận đối tượng lợi dụng để thực hiện các hành vi gian lận, trốn thuế, chiếm đoạt tiền hoàn thuế từ ngân sách nhà nước thông qua việc mua bán, sử dụng trái phép hóa đơn và tổ chức các chuỗi DN “ma”, DN trung gian nhằm hợp thức hóa hồ sơ hoàn thuế. Đáng chú ý, các hành vi vi phạm không còn mang tính đơn lẻ mà đã chuyển dần sang phương thức hoạt động có tổ chức, liên tỉnh, phân tầng và sử dụng các biện pháp kỹ thuật để che giấu dòng tiền, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước.

Với các kinh nghiệm thực tiễn và nghiên cứu từ góc độ quản lý rủi ro, ngành thuế phân loại các đối tượng thành 04 nhóm hành vi điển hình như sau:

Nhóm 1: DN được thành lập nhằm mục đích mua bán trái phép hóa đơn;

Nhóm 2: DN cố ý thực hiện mua bán trái phép hóa đơn để trốn thuế, chiếm đoạt hoàn thuế;

Nhóm 3: Cá nhân, hộ kinh doanh không đăng ký kinh doanh, mua trái phép hóa đơn giao cho người mua để hợp thức hóa cho việc bán hàng hóa, dịch vụ không xuất hóa đơn (dấu hiệu giao dịch đáng ngờ thể hiện tại tài khoản bên bán hóa đơn);

Nhóm 4: DN lợi dụng hoạt động bán lẻ để xuất hóa đơn khống.

Từ việc tập trung phân tích các nhóm hành vi điển hình liên quan đến mua bán, sử dụng trái phép hóa đơn phục vụ mục đích chiếm đoạt hoàn thuế GTGT, ngành thuế đã làm rõ bản chất hành vi, các đặc điểm nhận diện và các tác động đến công tác quản lý hoàn thuế của cơ quan thuế.

Bản chất hành vi và đặc điểm nhận diện của 04 nhóm hành vi điển hình liên quan đến mua bán, sử dụng trái phép hóa đơn phục vụ mục đích chiếm đoạt hoàn thuế GTGT. Cụ thể:

 Nhóm 1: DN được thành lập nhằm mục đích mua bán trái phép hóa đơn

Đây là nhóm có mức độ rủi ro cao nhất, khi DN được thành lập không nhằm mục đích sản xuất kinh doanh thực tế, mà để phát hành hóa đơn khống và tổ chức mua bán hóa đơn theo chuỗi nhằm hưởng lợi bất hợp pháp từ NSNN. Hành vi này mang dấu hiệu của tội phạm có tổ chức, liên quan trực tiếp đến quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự 2015 về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Nhóm này có một số đặc điểm như:

Tổ chức phân tầng: Thành lập nhiều DN siêu nhỏ, lao động thường dưới 10 người, kinh doanh thương mại hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại. Các DN này hoạt động trong thời gian ngắn và có tính luân chuyển (thay đổi địa chỉ kinh doanh, bỏ địa chỉ kinh doanh) để thực hiện hành vi mua trái phép hóa đơn tại nhiều địa bàn khác nhau nhằm hạn chế sự phát hiện của cơ quan chức năng.

Dấu hiệu tài chính bất thường: Doanh thu lớn, giá trị các hóa đơn lớn, hóa đơn đầu vào xuất sau hóa đơn đầu ra; Hàng hóa, dịch vụ bán ra và hàng hóa, dịch vụ mua vào phát sinh cùng một thời điểm có giá trị tương đương; từ đó không phát sinh số thuế GTGT phải nộp, phát sinh số thuế GTGT phải nộp rất thấp; Giao dịch thanh toán qua ngân hàng mang tính “kỹ thuật”: tiền gửi vào và rút ra nhanh khỏi tài khoản; doanh số giao dịch lớn trong ngày nhưng số dư tài khoản rất nhỏ hoặc bằng không.

Hình thức pháp lý không minh bạch: Sử dụng người đại diện pháp luật “thuê” hoặc giả mạo; Hệ thống các DN được thành lập phân tầng thành DN đầu vào – trung gian – đầu ra.

Nhóm 2: DN cố ý thực hiện mua bán trái phép hóa đơn để trốn thuế, chiếm đoạt hoàn thuế

Khác với nhóm 1, các DN này có hoạt động kinh doanh thực tế, nhưng cố ý mua trái phép hóa đơn để nâng khống chi phí khấu trừ thuế GTGT hoặc hoàn thuế và làm giảm thu nhập chịu thuế; thuộc hành vi sử dụng bất hợp pháp hóa đơn, hoặc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp đầu vào để trốn thuế. Hành vi mua và sử dụng trái phép hóa đơn phạm tội trốn thuế theo Điều 200 của Bộ luật hình sự 2015. Đặc điểm nhận diện của nhóm này là:

Mua trái phép hóa đơn đầu vào nhằm nâng khống chi phí đầu vào với mục đích chiếm đoạt tiền thuế GTGT và trốn thuế TNDN thuộc hai trường hợp: (1)Thông đồng với bên mua nâng giá trị hàng hóa, dịch vụ giao dịch, sau đó mua hóa đơn đầu vào để nâng khống chi phí đầu vào tương ứng; (2) Cố ý tạo lập chi phí không có thật hoặc không tương xứng, sau đó mua hóa đơn đầu vào để hợp thức hóa phần chi phí đó.

Mua trái phép hóa đơn đầu vào để hợp thức hóa cho hàng hóa, dịch vụ không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp tương ứng.

Nhóm 3: Cá nhân, hộ kinh doanh không đăng ký kinh doanh, mua trái phép hóa đơn giao cho người mua để hợp thức hóa cho việc bán hàng hóa, dịch vụ không xuất hóa đơn (dấu hiệu giao dịch đáng ngờ thể hiện tại tài khoản bên bán hóa đơn)

Các cá nhân, hộ kinh doanh có hoạt động kinh doanh thực tế nhưng không đăng ký kinh doanh nên không thể xuất hóa đơn hợp pháp và phải mua hóa đơn nhằm hợp thức hóa giao dịch. Hành vi này thuộc trường hợp sử dụng bất hợp pháp hóa đơn.

Đặc điểm của nhóm này là cá nhân, hộ kinh doanh không đăng ký kinh doanh. Thường hoạt động trong các lĩnh vực: vận tải, vật liệu xây dựng (đất, đá, cát, sỏi…), hàng nhập khẩu…; Cá nhân, hộ kinh doanh bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ mua trái phép hóa đơn để xuất cho bên mua hàng hóa yêu cầu bên mua chuyển tiền vào tài khoản của DN bán hóa đơn, sau đó nhận lại tiền từ các DN này.

Nhóm 4: DN lợi dụng hoạt động bán lẻ để xuất hóa đơn khống

Các DN này khai thác đặc điểm người tiêu dùng không yêu cầu hóa đơn từ đó không xuất hóa đơn thực tế xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; sau đó, do có một số DN có nhu cầu mua mua đơn đầu vào nên họ đã xuất khống hóa đơn cho các DN khác để thu lợi bất chính. Hành vi này đã vi phạm không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ với mục đích trốn thuế và thuộc trường hợp sử dụng bất hợp pháp hóa đơn theo quy định tại Nghị định số 123/2020/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 70/2025/NĐ-CP). Nhóm này có đặc điểm là DN thường hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực xăng dầu, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng…

Việc phân loại các nhóm hành vi vi phạm và nhận diện đặc điểm hoạt động của từng nhóm không chỉ có ý nghĩa trong công tác quản lý thuế mà còn là cơ sở quan trọng để xây dựng cơ chế cảnh báo sớm, xác định trọng tâm kiểm tra, cũng như nâng cao hiệu quả chuyển giao thông tin, tài liệu phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử.

Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan Thuế, lực lượng Công an, Viện Kiểm sát Nhân dân và Tòa án Nhân dân theo hướng đồng bộ, thực chất và kịp thời; tăng cường ứng dụng công nghệ, phân tích dữ liệu lớn và quản trị rủi ro trong quản lý hóa đơn điện tử, hoàn thuế; đồng thời nâng cao trách nhiệm của người nộp thuế trong tuân thủ pháp luật về hóa đơn, chứng từ và kê khai thuế.

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *